Lịch sử có lặp lại chính nó ở Iceland không?


Chỉ 10 năm sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế đã tấn công Iceland năm 2008, quốc đảo Bắc Âu này đang phải đối mặt với một vấn đề khác vào cuối năm 2018. Ngành công nghiệp du lịch đã trải qua một sự suy thoái, đồng tiền đôi khi chịu sự bất ổn định, và thương mại quốc tế là không ở mức như mong muốn. Phải mất một thời gian dài để người Iceland có thể đứng dậy sau những khó khăn kinh tế trước đó, và những gì đang tồn tại vẫn còn được nhìn thấy trong những tháng tới.

Iceland có dân số 338,592 người vào năm 2018, và phần lớn sống ở thủ đô và thành phố lớn nhất, Reykjavik, nơi có dân số khoảng 123,000 người vào năm 2018 (có gần 217.000 người sống ở vùng thủ đô, hoặc Greater Reykjavik, thành phố của chính nó và sáu đô thị xung quanh nó). Kể từ năm 1960, dân số của Reykjavik đã tăng 4,1% và không có dấu hiệu chậm lại, bởi vì ngày càng có nhiều người muốn đến định cư (có hơn 100 quốc tịch khác nhau ở Reykjavik).

Vùng đất thất nghiệp thấp

Tỷ lệ thất nghiệp ở Iceland thấp tới 0,10 vào năm 1972, và nó đạt đến mức cao nhất mọi thời đại hai năm sau cuộc khủng hoảng kinh tế và sự sụp đổ ngân hàng đã tấn công đất nước vào tháng 11 năm 2010, khi đó tỷ lệ thất nghiệp là 8,9%. Điều này vẫn còn thấp so với tỷ lệ thất nghiệp mà nhiều quốc gia châu Âu trải qua, và nó là an toàn để nói rằng Iceland là đất nước có thể tự hào về chính mình vì tỷ lệ việc làm cao nhất trên thế giới. Tỷ lệ thất nghiệp của Iceland có lịch sử luôn rất thấp, trung bình khoảng 2,45%. Vào tháng 8 năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp là 2,7%, giảm 1% so với tháng 7, khi đó là 3,7%. Tỷ lệ việc làm là 79,6%, và số lượng lao động được tuyển dụng ước tính khoảng 200.500. Dự báo dài hạn cho tỷ lệ thất nghiệp của Iceland được dự đoán là 3,4% vào năm 2020.

Cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 2008

Năm 2008 là rất khó khăn cho người Iceland. Đồng tiền của họ đã bị mất giá, tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục và thị trường chứng khoán đã bị xóa sổ qua đêm. Ba ngân hàng thương mại lớn của Iceland, thuộc sở hữu tư nhân – Landsbanki, Glitnir và Kaupthing –nằm trong các khoản nợ tổng cộng gấp 10 lần GDP của quốc gia và 20 lần ngân sách. Đồng króna mất một nửa giá trị của nó và GDP đã giảm 15%. Chính phủ đã phải đối mặt với việc phải thực hiện các biện pháp quan trọng để cải thiện nền kinh tế, bao gồm ổn định tiền tệ, giảm thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát, thực hiện các hồ sơ vốn, đa dạng hóa nền kinh tế và tái cơ cấu ngành tài chính. Thêm vào đó, đồng króna yếu đã khuyến khích xuất khẩu và thậm chí còn thu hút nhiều du khách đến thăm đất nước này. Điều này cũng khiến nhiều nhà đầu tư quay trở lại và thúc đẩy nền kinh tế.

Ngoài cuộc khủng hoảng năm 2008, Iceland có nền kinh tế tương đối ổn định, là sự kết hợp giữa nguyên tắc thị trường tự do và cơ cấu tư bản, kèm theo một hệ thống phúc lợi rộng lớn. Nền kinh tế của đất nước chủ yếu phụ thuộc vào ngành đánh cá, chiếm hơn 12% GDP của Iceland và sử dụng 5% dân số làm việc. GDP của Iceland là 0,04% kinh tế thế giới, với 23,91 tỷ USD vào năm 2017. Dự kiến tăng 3,3% vào cuối năm 2018 và dự báo tăng 3% vào năm 2019. Một trong những lý do đằng sau tỷ lệ tăng trưởng của GDP là sự suy giảm mà ngành du lịch đã trải qua.

Thỏi nam châm hút du khách

Iceland đã trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng trong một thời gian dài, và ngành du lịch đã là một trụ cột chính và là nhánh kinh tế quan trọng cho đất nước nhỏ bé này với chỉ dưới 340.000 cư dân. Trong năm 2016, đã có nhiều khách du lịch Mỹ ở Iceland hơn là cư dân. Năm 2017 có sự gia tăng 24% về số lượng du khách nước ngoài, với khoảng 2,2 triệu người đến Iceland, và phần lớn trong số họ (gần 99%) đến từ Sân bay Quốc tế Keflavik. Nhưng năm ngoái là tốt hơn nhiều, với mức tăng 40%. Ước tính rằng đóng góp của ngành du lịch vào GDP sẽ đạt 930 tỷ króna vào năm 2018, và doanh thu đến từ du lịch chiếm ít hơn 12% tổng GDP của đất nước.

Mối quan ngại đang gia tăng

Tuy nhiên, Arion Bank hf, có trụ sở tại Reykjavik, đã đưa ra một báo cáo, trong đó nó đã thể hiện một cảnh báo rằng số lượng du khách có thể giảm đáng kể sau một thập kỷ tăng trưởng. Lý do chính đằng sau điều này sẽ là sự biến động và bất ổn định của đồng króna, vì nó đã trải qua sự đánh giá cao hơn 9% so với đồng đô la Mỹ, và mất giá 4% so với đồng Euro năm 2016. Điều này có khả năng dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu cho dịch vụ và xuất khẩu – một trong số đó là du lịch, đó là một nguồn thu ngoại tệ chính. Nó cũng được ước tính rằng 2019, du lịch sẽ không còn đi đầu trong xuất khẩu của Iceland.

Các hãng hàng không Iceland là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất. Tập đoàn Icelandair hf đã ban hành một cảnh báo lợi nhuận và yêu cầu các bên liên quan trợ giúp. Wow Air đang tìm kiếm nhà đầu tư vào tháng Tám năm 2018 và đã gây ra rất nhiều suy đoán rằng bằng cách phát hành trái phiếu để tái cấp vốn các khoản nợ của mình. Hai công ty này chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển 80% du khách đến thăm Iceland, vì vậy sự bất ổn mà họ gặp phải có thể có một cú đánh lớn vào ngành du lịch. Ngoài ra, Primera Air đệ đơn xin phá sản và ngừng hoạt động bay vào ngày mùng 2 tháng Mười.

Tất cả điều này đã khiến Ngân hàng Trung ương can thiệp và nâng giá trị của đồng króna để ngăn chặn sự mất giá thêm, nó đã giảm 6% so với đồng Euro trong tháng Chín. Các quan chức chính phủ nói rằng không có căn nguyên cho sự lo ngại và sợ hãi rằng đồng tiền nguyên tắc của nước này sẽ tiếp tục giảm và hậu quả của các bất ổn hiện tại sẽ là dài hạn, vì dự trữ tiền tệ lớn và các ngân hàng đang thực hiện tất cả những bước cần thiết để ngăn chặn sự mất giá bổ sung.

Một niềm hi vọng

Bất chấp tất cả những bất ổn này, trước khi xảy ra tình trạng bất ổn kinh tế mới nhất, króna đã trải qua tỷ giá hối đoái ổn định nhất trong nhiều năm, và thị trường ngoại hối có ảnh hưởng đáng kể bởi tình huống thuận lợi này. Hai lý do chính đằng sau điều này là dòng tiền đầu tư trong nước và dòng tiền đầu tư ra bên ngoài đã được cân bằng và có sự gia tăng tỷ lệ trong đầu tư nước ngoài vào trong nước, vì vậy hy vọng rằng xu hướng này có thể tiếp tục một khi môi trường kinh tế hiện tại thay đổi tốt hơn. Những khoản đầu tư này đặc biệt quan trọng vì chúng chưa ở mức mong muốn trong vài năm qua.